Sat, 07 / 2018 4:58 pm | hien

[Văn mẫu lớp 12] – Anh chị hãy soạn bài Việt Bắc của tác giả Tố Hữu

Đề bài:  Anh chị hãy soạn bài “Việt Bắc” của tác giả Tố Hữu

 Bài làm:

I – Tìm hiểu về tác giả

– Tố Hữu (1920 – 2002)

Loading...

– Là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. Với Tố Hữu, con đường đời cũng là con đường cách mạng, con đường thơ a, Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên trình độ của thơ rất đỗi trữ tình. “Việt Bắc” là thành tự xuất sắc của đời Tố Hữu là đỉnh cao rực rỡ của thơ ca kháng chiến chống Pháp

II – Tìm hiểu về tác phẩm

1) Hoàn cảnh sáng tác:

– Bài thơ Việt Bắc ra đời vào tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7 năm 1954, hiệp định Gionevo về Đông Dương được kí kết, miền Bắc được giải phóng, 1 nửa đất nước sống trong không khí hòa bình

– Tháng 10 năm 1954, các cơ quan trung ương của Đảng, chính phủ, Bác Hồ và những người cách mạng rời chiến khu kháng chiến khu Việt Bắc để về Hà Nội – Thủ đô của Hà Nội. Tố Hữu cũng có mặt trong cuộc chia tay lịch sử này. Nhà thơ không chỉ chia tay Việt Bắc, với đồng bào mà còn chia tay với những kỉ niệm của chính mình trong suốt nhiều năm kháng chiến trường kì. Tố Hữu bồi hồi xúc động muốn nhắn nhủ tất cả những người ra đi trong chiến thắng hôm nay không quên chặng đường gian khổ hi sinh đã trải qua. Từ đó, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ này.

2) Phân tích

a) Phần 1: Những giây phút cuối cùng của cuộc biệt li

* 4 dòng đầu: Bài thơ mở ra với lời nhắn nhủ của người ở lại đầy bâng khuâng lưu luyến

“Mình về mình có nhớ ta

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

– Hai chữ “mình về” thật trìu mến, nghe như tiếng lòng trĩu nặng lúc chia xa, người ở lại (đồng bào Việt Bắc) nhắc nhở người ra đi có nhớ nghĩa tình xưa, người ra đi có 1 chân trời vẫy gọi phía rước, người ở lại với núi rừng Việt Bắc sẽ đối diện với bao nhiêu đổi thay thế cuộc. Có lẽ vì thế, người ở lại lên tiếng nhắn nhủ trước là phù hợp với quy luật tâm lý tình cảm của con người.

+ Đồng bào Việt Bắc nhắn nhủ người ra đi có nhớ “15 năm thiết tha mặn nồng”

+ 15 năm dằng dặc gian khổ của quân dân Việt Bắc nào đâu phải chó có “9 năm” trường kì khoảng cách. 15 năm kể từ khởi nghĩa bắc sơn Việt Bắc đã trở thành căn cứ địa cách mạng, là cái nôi của kháng chiến, việt bắc đã chở che bảo vệ cách mạng từ thuở cách mạng còn trong trứng nước. Đó cũng là việt bắc của giây phút thiêng liêng Bác trở về Trung Quốc sau hơn 30 năm góc bể chân trời tìm đường cứu nước.

– Hai dòng tiếp : Sông núi cỏ cây cũng như in bóng người ra đi. Thế nhưng người ở lại còn nhắn nhủ người ra đi có thấy “Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”.

+ Thiên nhiên núi rừng Việt Bắc đều ghi dấu 15 năm đã đi qua, thấy hôm nay nhớ quá khứ những năm xưa

+ Lời thơ kín đáo, ý nhị , nhắn nhủ “uống nước nhớ nguồn”, hình ảnh thơ mang ý nghĩa ẩn dụ

+ Lời thơ đậm đà dấu ấn lời ăn tiếng nói của đồng bào miền núi, đây đúng là giọng của người miền núi không thể trộn lẫn. Phía sau lời nhắn nhủ ấy, người đọc nhận ra sự gắn bó sâu nặng của người ở lại với người ra đi.

Soan-bai-viet-bac-cua-to-huu

b) 4 dòng tiếp: Cũng nhưu người ở lại, lòng người ra đi có nhiều vấn vương

– 2 dòng đầu: trong tất cả nỗi nhớ của người ra đi, người ra đi nhớ nhất tiếng của đồng bào Việt Bắc, nhớ những gì nhỏ bé gần gũi thân thương nhất, vang vọng nhất trong lòng. Tiếng của đồng bào như vang mãi , vọng vào lòng người ra đi. Người ra đi bịn rịn bâng khuâng bồi hồi. Chân cất bước ra đi mà lòng không nỡ rời xa. Từ láy bâng khuâng bồn chồn kết đọng bao nhiêu nhung nhớ, bao nhiêu xúc cảm khó gợi thành lời, kỉ niệm kháng chiến níu kéo bước chân người ra đi.

– 2 dòng tiếp: Trong đáy mắt người ra đi chỉ còn có hình ảnh của người ở lại với sắc áo chàm thân thuộc.

+ Hình ảnh chiếc khăn cái áo dễ khơi gợi ở lòng người sự ấm áp của tình thân. Tấm áo trong ca dao thật nặng nghĩa nặng tình

“Chồng ta áo rách ta thương

Chồng người áo gấm xông hương mặc người”

– Đến với Việt Bắc, sắc áo chàm của đồng bào hiện lên cùng hình ảnh của những lớp học i-tờ của “sớm khuya bếp lửa người thương đi về”. Ở đây, nghệ thuật hoán dụ đã mở ra 1 trời kỉ niệm, 15 năm đồng hiện ùa về. Người ra đi nhớ đồng bào Việt Bắc, nhớ sắc áo chăm như nàng Kiều nhớ màu áo chàng Kim “tiết thanh minh thời ấy”.

-> Tóm lại, 8 dòng thơ đầu đã tái hiện xúc động cảnh biệt li , lời thơ giản dị. hình ảnh thơ gần gũi mà vẫn có sức gợi cảm. Lời thơ ngọt ngào tràn đầy tình thương mến, rất tiêu biểu cho Phong cách nghệ thuật Tố Hữu.

2) Phần 2: Nhớ kỉ niệm kháng chiến

* Nhớ nững năm trước cách mạng

– Nhận xét:

+ Đoạn thơ có sự đảo đổi luân phiên lượt lời trong kết cấu đối lập. Từ “mình” là lời người Việt Bắc gọi người ra đi. Đoạn thơ bao gồm 12 câu lục bát. Trong đó 1 câu bắt đầu bằng 2 chữ “mình đi” được đan xen bởi 1 câu bắt đầu bằng 2 chữ “mình về” . Hình ảnh của người ra đi cứ trở đi trở lại trong tâm trí của người ở lại

+ Các câu hỏi tu từ tạo giọng điệu khắc khoải nhớ thương.

– Người ở lại nhắn nhủ người ra đi có nhớ thiên nhiên núi rừng việt bắc hoang sơ “mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù”. Thiên nhiên việt bắc đầy khắc nghiệt, lạnh lẽo. Và trong gian khổ đồng bào Việt Bắc sẵn sàng nhường cơm sẻ áo giúp các cán bộ chiến sĩ cách mạng vượt qua thử thách. Buổi đầu các cán bộ chiến sĩ cách mạng lên Việt Bắc, cuộc sống trăm bề thiếu  thốn. Ở chiến khu chỉ có “miếng cơm chấm muối” mà “mối thù nặng vai”

– Người ở lại kín đáo bày tỏ nỗi nhớ dành cho người ra đi qua nghệ thuật hoán dụ:

“Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già”

+ Rừng núi vô tri mà cũng mang nỗi nhớ. Đó là một cách người ở lại diễn tả nỗi nhớ dành cho người ra đi, mượn thiên nhiên để tả tình người.

–  Dòng hồi ức của người ở lại đi về giữa quá khứ và hiện tại. Trở về quá khứ, đồng bào Việt Bắc nhắn nhủ người ra đi mãi nhớ về những mái nhà Việt Bắc tuy bình dị đơn sơ “hắt hiu lau xám” nhưng son sắc thủy chung. Nhớ về quá khứ là “nhớ khi kháng Nhật, thưở còn Việt Minh”. Lực lượng của ta dù mỏng và yếu nhưng đã gan góc quả cảm đánh đuổi phát xít, biểu dương chính nghĩa của dân tộc. Tứ thơ vận động đi từ lạnh lẽo gian khổ đến thắng lợi tươi vui.

-> Đoạn thơ chứa đựng hình ảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc hùng vĩ, hoang sơ. Đoạn thơ ghi tạc sự hi sinh bền bỉ dài lâu của Việt Bắc

* Nhớ cuộc sống sinh hoạt của người Việt Bắc

– Với Tố Hữu, nhớ cảnh và người Việt Bắc như nhớ người yêu

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”

+ Nhớ thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng, êm đẹp, nhớ ánh trăng Việt Bắc sáng soi, ánh trăng lên nơi đầu núi, đêm Việt Bắc lung linh, huyền ảo. Vầng trăng thanh bình ấy hiện lên 1 lần,người đọc từng bắt gặp trong những vần thơ của Bác “Trăng lồng cổ thụ , bóng lồng hoa”.

+ Nhớ bản làng thấp thoáng trong sương khói gắn liền với những kỉ niệm của tình quân dân. Hình ảnh thơ giàu chất hội họa, đẹp như trong tranh lụa.

+ Chữ “từng” trong câu thơ kết đọng những kỉ niệm sâu sắc hằn in trong trí nhớ, lời thơ bồi hồi, rung rung xúc động.

+ Nhớ đồng bào Việt Bắc cũng là nhớ bếp lửa ấm tình thân

+ Tố Hữu gọi đồng bào Việt Bắc là “người thương”, lời thơ ngọt ngào mang âm hưởng ca dao dân ca

“Người thương đâu hỡi người thương

Đi đâu mà để buồng hương lạnh lùng”

– Hình ảnh đồng bào Việt Bắc thấp thoáng bên bếp lửa cứ trở đi trở lại khắc khi trong nỗi nhớ của Tố Hứu hình ảnh của đồng bào bao giờ cũng gắn liền với tình cảm thắm nồng không thể nguôi ngoai.

– Nhớ cuộc sống sinh hoạt của Việt Bắc là nhớ núi rừng chở che cách mạng và kháng chiến

“Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”

* Nhớ Việt Bắc qua 4 mùa xuân, hạ , thu , đông (bức tranh tứ bình)

– Sức hấp dẫn cảu đoạn thơ đến từ nhạc điệu trầm bổng du dương rất cân đối , hài hòa. Câu 6 tiếng tả cảnh thiên nhiên đan xen với câu 8 tiếng tả vẻ đẹp của người thiếu nữ – người lao động Việt Bắc. Lời thơ giàu tính tạo hình đạt đến độ mẫu mực cổ điển hiếm thấy.

* Nhớ những ngày chiến đấu và chiến thắng.

– Tố Hữu đã tái hiện 3 giai đoạn của cuộc kháng chiến. Buổi đầu kháng chiến rất gian khó, lực lượng của ta còn mỏng và yếu

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”

– Quân đội ta hùng tráng, người người lớp lớp trải dài theo hình núi sông “điệp điệp trùng trùng”. Hình ảnh thơ đẹp, lãng mạn mang tầm vóc thời đại.

– Từng đoàn dân công miệt mài ngày đêm san đường, chở lượng, tải đạn thắp đuốc mà đi, vượt rừng mà tới. Từng đoạn đuốc lửa rực sáng như ý chí quyết tâm hướng về ngày mai toàn thắng. Tố Hữu đã huyền thoại hóa sức mạnh dân công qua nghệ thuật cường điệu. Hình ảnh thơ tôn vinh sức mạnh phi thường, nghị lực quả cảm vô song của lực lượng dân công.

– Tố Hữu bày tỏ lòng biết ơn dành cho Việt Bắc, khẳng định thêm 1 nửa ý nghĩa thiêng liêng của Việt Bắc với cách mạng của Việt Nam. Việt Bắc là sức mạng ngọn nguồn của dân tộc, nơi “Trung ương chính phủ luận bàn việc công”. Và nơi đây “mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” mãi mãi rợp bóng tâm hồn người ra đi.

III – Tổng kết

1) Nghệ thuật

– Tố Hữu đã vận dụng thành công thể thơ lục bát truyền thông của dân tộc để diễn tả nội dung cách mạng. Lời thơ ngọt ngào tràn đầy tình thương mến, hình ảnh thơ đẹp, khi gần gũi bình dị, khi hùng vĩ tráng lệ nhưng bao giờ cũng đậm đà khuynh hướng sử thi, mang tầm vóc thời đại.

2) Nội dung

– Bài thơ chứa chan nghĩa tình kháng chiến, xứng đáng là bản hùng ca, khúc tình ca của cuộc kháng chiến và con người kháng chiến

>>>Xem thêm:

Anh chị hãy soạn bài “Việt Bắc” của tác giả Tố Hữu
Rate this post
Spread the love
Loading...
Bài viết cùng chuyên mục